Bỏ qua đến nội dung chính

Ngáy hay ngưng thở khi ngủ? Khi nào cần đi đo giấc ngủ

Chỉ nghe tiếng ngáy thì không phân biệt được ngáy đơn thuần với ngưng thở khi ngủ. Bài viết giải thích khi nào cần đo giấc ngủ và nha sĩ tham gia ở bước nào.

Kiến thức25 tháng 8, 2025
Ngáy hay ngưng thở khi ngủ? Khi nào cần đi đo giấc ngủ

Chỉ nghe tiếng ngáy thì không ai, kể cả bác sĩ, phân biệt được đó là ngáy đơn thuần hay ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ. Bạn nên đi đo giấc ngủ nếu ngáy to kèm ngừng thở được người ngủ cùng chứng kiến, thức dậy ngạt thở, hoặc buồn ngủ nhiều ban ngày. Chẩn đoán do bác sĩ chuyên khoa giấc ngủ thực hiện bằng đo đa ký giấc ngủ; nha sĩ tham gia ở bước điều trị bằng khí cụ khi có chỉ định.

Biên soạn: đội ngũ bác sĩ Nha khoa Greenfield

Ngáy và ngưng thở khi ngủ khác nhau thế nào

Khi ngủ, cơ vùng họng giãn ra. Nếu đường thở hẹp, luồng khí đi qua làm mô mềm rung lên, tạo ra tiếng ngáy. Ở một số người, đường thở không chỉ hẹp mà còn xẹp hẳn từng đợt, khiến hơi thở giảm hoặc ngừng trong vài giây đến hơn chục giây, rồi não phải "đánh thức" cơ thể để thở lại. Đó là ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (OSA).

Người bị OSA gần như luôn ngáy, nhưng không phải ai ngáy cũng bị OSA. Hướng dẫn của Hiệp hội Nha khoa Giấc ngủ Hoa Kỳ (AADSM, 2025) nhấn mạnh: không thể phân biệt ngáy đơn thuần với OSA nếu không làm xét nghiệm giấc ngủ. Đây là lý do nha sĩ không làm khí cụ chống ngáy khi chưa có kết quả đo.

Dấu hiệu nên đi đo giấc ngủ

  • Ngáy to, đều đặn gần như mỗi đêm.
  • Người ngủ cùng thấy bạn ngừng thở, rồi thở hắt hoặc sặc.
  • Thức dậy giữa đêm vì ngạt, tim đập nhanh.
  • Buổi sáng đau đầu, khô miệng, ngủ đủ giờ vẫn mệt.
  • Buồn ngủ ban ngày: ngủ gật khi họp, khi xem tivi, nguy hiểm nhất là khi lái xe.
  • Hay đi tiểu đêm, giảm tập trung, dễ cáu gắt.
  • Tăng huyết áp khó kiểm soát.

Các bảng hỏi như thang điểm buồn ngủ Epworth hay STOP-Bang (với người châu Á dùng ngưỡng BMI 27,5) giúp ước lượng nguy cơ. Chúng không thay được đo giấc ngủ. Hướng dẫn của Hội Y học Giấc ngủ Việt Nam (2023) cũng nêu rõ bảng hỏi đơn thuần không đủ để chẩn đoán.

OSA ở Việt Nam: không chỉ là bệnh của người béo

Nhiều người nghĩ ngưng thở khi ngủ chỉ gặp ở người thừa cân. Nghiên cứu EPSASIE tại Việt Nam (Duong-Quy và cộng sự, 2018) ghi nhận 8,5% người trưởng thành có AHI trên 5 và 5,2% có AHI trên 15, trong khi BMI trung bình của nhóm này chỉ khoảng 21,6. Nói cách khác, người Việt có cân nặng bình thường vẫn có thể bị OSA.

Một phần nguyên nhân nằm ở cấu trúc xương mặt. Nghiên cứu so sánh của Lee và cộng sự (2010) cho thấy ở cùng mức độ bệnh, người châu Á thường có hạn chế về xương nhiều hơn, chẳng hạn xương hàm trên và hàm dưới ngắn hơn, làm đường thở hẹp hơn.

Mức độ bệnh theo chỉ số AHI

AHI (apnea–hypopnea index) là số lần ngừng thở hoặc giảm thở trung bình mỗi giờ ngủ, đo được qua xét nghiệm giấc ngủ.

AHI (lần/giờ)Mức độ
Dưới 5Bình thường (có thể vẫn ngáy)
5–14Nhẹ
15–30Trung bình
Trên 30Nặng

Nguồn: NHS.

Mức độ bệnh cùng với triệu chứng, bệnh kèm theo và mong muốn của bạn sẽ quyết định hướng điều trị.

Ai chẩn đoán, ai điều trị

Chẩn đoán thuộc về bác sĩ chuyên khoa giấc ngủ (thường là bác sĩ hô hấp, thần kinh hoặc tai mũi họng được đào tạo về giấc ngủ), bằng đo đa ký giấc ngủ tại cơ sở y tế (PSG) hoặc đo hô hấp tại nhà. Xem thêm bài Đo giấc ngủ ở Hà Nội: đo tại viện hay tại nhà.

Điều trị tuỳ mức độ và từng người:

  • Máy thở áp lực dương (CPAP): lựa chọn chuẩn, được ưu tiên khi bệnh càng nặng.
  • Khí cụ đẩy hàm dưới (MAD): theo hướng dẫn AASM/AADSM (Ramar và cộng sự, 2015), khí cụ được chỉ định cho ngáy đơn thuần, và cho người lớn bị OSA không dung nạp CPAP hoặc muốn một lựa chọn khác. Khí cụ nên được làm riêng, chỉnh được mức đẩy hàm, do nha sĩ có đào tạo thực hiện.
  • Giảm cân, thay đổi tư thế ngủ, hạn chế rượu bia buổi tối, và các can thiệp tai mũi họng khi có chỉ định.
  • Trẻ em: cắt amidan và nạo VA (do bác sĩ tai mũi họng) là hướng điều trị đầu tay; nong rộng hàm trên chỉ là biện pháp hỗ trợ ở trẻ có hàm hẹp, cần phối hợp nhiều chuyên khoa.

Theo tổng quan của Hội Hô hấp châu Âu (ERS, 2021), với OSA nhẹ đến trung bình, CPAP và khí cụ đẩy hàm được xem là tương đương nhau về tổng thể, lựa chọn phụ thuộc vào khả năng sử dụng đều đặn và mong muốn của người bệnh. Nghiên cứu của Phillips và cộng sự (2013) cho thấy CPAP giảm AHI nhiều hơn, nhưng người bệnh đeo khí cụ lâu hơn mỗi đêm, và hai phương pháp có hiệu quả tương tự lên buồn ngủ ban ngày, chất lượng sống và huyết áp 24 giờ.

Tại Việt Nam, Quyết định 3635/QĐ-BYT của Bộ Y tế (24/11/2025) có quy trình "Đặt khí cụ điều trị ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ", do bác sĩ Răng Hàm Mặt thực hiện, áp dụng từ 01/07/2026, với chỉ định cho OSA nhẹ đến trung bình, hoặc OSA nặng khi không dùng được CPAP.

Nha sĩ làm gì trong điều trị ngưng thở khi ngủ

Khi đã có chẩn đoán và chỉ định từ bác sĩ giấc ngủ, nha sĩ:

  1. Khám răng, nướu và khớp thái dương hàm để xem bạn có đeo khí cụ được không. Những trường hợp cần thận trọng: đang viêm nha chu, còn quá ít răng khoẻ, bệnh khớp thái dương hàm đáng kể, hoặc hàm dưới đưa ra trước được rất ít.
  2. Lấy dấu hoặc quét hàm để làm khí cụ riêng, có thể điều chỉnh mức đẩy hàm.
  3. Chỉnh dần mức đẩy hàm trong vài tuần đến khi triệu chứng cải thiện và bạn đeo thoải mái.
  4. Chuyển lại bác sĩ giấc ngủ để đo kiểm tra khi đeo khí cụ, xác nhận hiệu quả.
  5. Theo dõi răng và khớp cắn định kỳ (khoảng 6 và 12 tháng, sau đó mỗi năm), vì khí cụ có thể làm khớp cắn thay đổi dần theo năm, gây mỏi hàm hoặc ê răng.

Nha khoa Greenfield đang chuẩn bị dịch vụ nha khoa giấc ngủ phối hợp với các bác sĩ chuyên khoa giấc ngủ. Dịch vụ chưa triển khai; nếu bạn quan tâm, hãy nhắn đội ngũ tư vấn qua Zalo hoặc WhatsApp để được thông báo khi sẵn sàng.

Về thuốc giảm cân và OSA

Cuối năm 2024, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt tirzepatide cho OSA trung bình đến nặng ở người lớn béo phì. Tuy nhiên, nhiều người Việt bị OSA không béo phì, nên thuốc này không phù hợp với tất cả. Khí cụ có thể dùng kết hợp với các biện pháp khác; khi cân nặng thay đổi đáng kể, nên đo lại giấc ngủ.

Câu hỏi thường gặp

Tôi chỉ ngáy, không thấy mệt, có cần đo giấc ngủ không? Nên hỏi ý kiến bác sĩ, đặc biệt nếu người ngủ cùng thấy bạn ngừng thở hoặc bạn có tăng huyết áp. Không có xét nghiệm thì không phân biệt được ngáy đơn thuần với OSA.

Nha sĩ có chẩn đoán ngưng thở khi ngủ được không? Không. Nha sĩ có thể nhận ra dấu hiệu nguy cơ và giới thiệu bạn đi khám, nhưng chẩn đoán do bác sĩ giấc ngủ thực hiện qua đo giấc ngủ.

Máng chống ngáy mua sẵn có dùng được không? Hướng dẫn AASM/AADSM khuyến nghị khí cụ làm riêng và chỉnh được, do nha sĩ có đào tạo thực hiện. Loại mua sẵn khó chỉnh chính xác và không có theo dõi răng, khớp.

Đeo khí cụ có hết ngưng thở không? Khí cụ giúp giữ đường thở thông thoáng trong lúc đeo; khi ngừng đeo, tình trạng ngưng thở thường quay lại. Hiệu quả cần được xác nhận bằng lần đo giấc ngủ kiểm tra.

Trẻ ngáy thì sao? Trẻ ngáy thường xuyên nên được khám tai mũi họng. Cắt amidan và nạo VA là hướng đầu tay; nha sĩ chỉ tham gia hỗ trợ khi trẻ có hàm hẹp.

Nguồn tham khảo

  • AADSM (2025). Standards for the practice of dental sleep medicine. Journal of Dental Sleep Medicine 12(2). https://www.aadsm.org/docs/jdsm.4.10.2025.sa1.pdf
  • NHS. Sleep apnoea – diagnosis. https://www.nhs.uk/conditions/sleep-apnoea/
  • Duong-Quy S, et al. (2018). Nghiên cứu EPSASIE về ngưng thở khi ngủ ở người trưởng thành Việt Nam. Rev Mal Respir. PubMed 29402642.
  • Lee RWW, et al. (2010). Differences in craniofacial structures and obesity in Caucasian and Chinese patients with OSA. Sleep. PMID 20815189.
  • Ramar K, et al. (2015). Clinical practice guideline for the treatment of OSA and snoring with oral appliance therapy. J Clin Sleep Med. https://jcsm.aasm.org/doi/10.5664/jcsm.4858
  • Randerath W, et al. (2021). European Respiratory Society guideline on non-CPAP therapies for obstructive sleep apnoea. Eur Respir Rev.
  • Phillips CL, et al. (2013). Health outcomes of CPAP versus oral appliance treatment for OSA. Am J Respir Crit Care Med. PMID 23413266.
  • Malhotra A, et al. (2024). Tirzepatide for the treatment of OSA and obesity (SURMOUNT-OSA). N Engl J Med.
  • Bộ Y tế (2025). Quyết định 3635/QĐ-BYT ngày 24/11/2025.
  • Hội Y học Giấc ngủ Việt Nam (2023). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hội chứng ngưng thở khi ngủ. Journal of Functional Ventilation and Pulmonology (JFVP). https://www.jfvpulm.com/librarys/uploads/141104-ARTICLE1_JFVP44.pdf

Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế thăm khám trực tiếp.

Cần tư vấn thêm?

Đội ngũ bác sĩ Greenfield sẵn sàng giải đáp mọi thắc mắc